AQ (Adversity Quotient) là chỉ số đo khả năng đối xử/quản lý nghịch cảnh, khó khăn, stress, gọi tắt là chỉ số vượt khó. Bên cạnh những đại lượng quá quen thuộc như IQ (chỉ số thông minh) hay EQ (chỉ số cảm xúc), AQ hiện được coi là một trong những chỉ số định lượng các phẩm chất tạo nên thành công của con người.
IQ, EQ đã lỗi thời?
 |
|
Climber thường không chấp nhận 1 tình thế sẵn có, và tìm cách xoay sở để cải thiện nó tốt hơn. |
Bạn
tự hào về chỉ số IQ (Intelligence Quotient - chỉ số thông minh) của
mình. Nó có thể thể hiện trí thông minh "thô" của bạn, nhưng nhiều
chuyên gia cho rằng, nó chỉ là 1 yếu tố nhỏ tạo nên thành công.
Manh nha hình thành từ năm 1912, khái niệm IQ đã
"thống trị" khá lâu trong quan niệm về thước đo phẩm chất dẫn đến thành
công của con người.
IQ, theo quan niệm phổ thông, thường được mặc định
song hành với khả năng tư duy. Tuy nhiên, sau này, nhà tâm lý học
Howard Garner đã mở rộng khái niệm IQ, khi chứng minh sự tồn tại của 8 dạng thức thông minh khác nhau và các yếu tố này đều ảnh hưởng đến thành công của một người.
Năm 1995, Daniel Goleman đã giới thiệu 1 khái niệm
mới: Năng lực xúc cảm (EQ - Emotional Intelligence) như một yếu tố cơ
bản dẫn đến thành công. Sự phát hiện này giải thích tại sao 1 số người
không thông minh lý tính (IQ) nhưng có sự nhạy cảm cao lại thành công
hơn những người có chỉ số IQ cao.
Năm 1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz lần
đầu tiên đưa ra 1 khái niệm mới: AQ (Adversity Quotient) trong cuốn
sách "Adversity Quotient: Turning Obstacles into Opportunities" (AQ:
Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội). Trong đó, ông định nghĩa, AQ là đại
lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi,
áp lực và các tình huống khó khăn.
Trong cuốn sách xuất bản sau đó, Adversity Quotient
@ Work, bàn kỹ hơn về vấn đề tương tự, ông giải thích cụ thể hơn cách
thức áp dụng khái niệm AQ, để có thể mang lại lợi ích.
|
Ngoài IQ, EQ và AQ, trong cuốn sách "Thế giới phẳng:
Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ 21" của nhà báo Thomas L. Friedman,
xuất bản lần đầu năm 2005, còn đề cập 2 khái niệm CQ (Curiosity
Quotient - Chỉ số tò mò) và PQ (Passion Quotient - Chỉ số đam mê) và
coi tổng hợp 2 chỉ số này có thể còn cần thiết hơn IQ (CQ + PQ > IQ) |
Tác giả khẳng định, AQ giải thích tại sao một số
người không hẳn thông minh, hay được giáo dục tốt, đồng thời thiếu hiểu
biết xã hội, mà lại thành công trong khi nhiều người khác thất bại.
Được viết ra trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm thực tế
từ nhiều nghiên cứu với hàng ngàn giám đốc điều hành và nhân viên trong
hàng trăm lĩnh vực kinh doanh đa dạng, cuốn sách này đã nhanh chóng trở
thành handbook (sổ tay) bí quyết thành công ở nhiều tập đoàn, tổ chức.
Nó cũng được sử dụng trong những bài tập dành cho
các VĐV thể thao Olympics, những trường học, những tập đoàn, doanh
nghiệp dùng để đào tạo nhân viên.
AQ: Chỉ số vượt khó
Paul Sloltz đã phát
triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm lý học đi trước, như
Abraham Maslow, tác giả của tháp Maslow nổi tiếng; từ Martin Seligman,
tác giả của sách "Học lạc quan", và Stephen R. Covey, tác giả của "7
thói quen của người thành đạt".
Nhiều nhà tâm lý đã ủng
hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này. Điều này góp phần khẳng định, việc
lượng hóa những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thề làm được
như đã từng làm với trí tuệ (IQ) và cảm xúc (EQ).
Paul Sloltz cho rằng,
những người có AQ thấp thường dễ xúc động và dễ buông xuôi trước nhiều
vấn đề trong cuộc sống. Trong khi, những người có AQ cao sẽ ít khi đầu
hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai.
Ông phân định ra 3 dạng
người dựa trên cách thức họ đối diện với những khó khăn, thử
thách trong cuộc đời. Đó là: Quitter, Camper và Climber.
|
Theo 1 cuộc điều tra xã hội học, với hơn 150.000
lãnh đạo doanh nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực trên thế giới, có
nhiều người thuộc tuýp Quitter (5 -20%), phần lớn thuộc dang Camper
(65-90%), và chỉ có rất hiếm người thuộc dạng Climber. |
1. Quitter: Là những
người dễ buông xuôi. Họ dễ dàng nản chí, dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi 1
công việc, 1 dự định và cao hơn là 1 mục đích sống. Và, kết quả là
thường giữa đường đứt gánh, và nhận thất bại, hoặc kết quả không như ý.
2. Camper: Là những người chịu khó, làm việc
chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân, và sẽ làm nhiều thứ để
đạt tới 1 mức độ nhất định nào đó trong cuộc sống. Tuy nhiên, họ dễ hài
lòng và thoả hiệp với bản thân để thấy như vậy là đủ.
3. Climber: Là những người có sự
kiên định và hoài bão lớn. Họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực
cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất có thể trong khả năng. Họ cũng
thường là tuýp người không chấp nhận 1 tình thế sẵn có, và tìm cách
xoay sở để cải thiện nó tốt hơn.
Theo đó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những
điều kiện khó khăn là yếu tố lớn nhất trong những phẩm chất tạo nên sự
thành công cho con người.
Theo Paul Sloltz, chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài
bão, nỗ lực, sự sáng tạo, năng lượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh
phúc của một người. Nó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp
của bản lĩnh sống:
1. Đối diện khó khăn
2. Xoay chuyển cục diện
3. Vượt lên nghịch cảnh
4. Tìm được lối ra
Theo quan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những
khái niệm "fix", có nghĩa là phần nhiều thuộc về "thiên phú", khó có
khả năng thay đổi. Trong khi đó, AQ là đại lượng có thể được rèn luyện
để "cải thiện, nâng cấp".
Còn bạn, đã bao giờ bạn tự định lượng chỉ số AQ của mình?
(vietnamnet.vn)